Thống kê truy cập

Đang truy cập: 185


Tổng lượt truy cập: 1204242

Favirab

Số lượng:0
Chất lượng:
Cập nhật:24/11/2016 10:47

Thông tin sản phẩm:

Huyết thanh: FAVIRAB được chỉ định trong huyết thanh dự phòng (nghĩa là, phòng ngừa bằng cách tiêm kháng thể) bệnh dại cho các đối tượng nghi ngờ bị phơi nhiễm với virus dại, đặc biệt trong trường hợp phơi nhiễm nghiêm trọng (ví dụ như bị nhiều nhiều vết cắn nghiêm trọng ở mặt, đầu, cổ, bàn tay khi mà con vật cắn là thú nuôi hay thú hoang dại không thể theo dõi được, hay con vật đã bị nhiễm hay nghi ngờ bị nhiễm virus dại), hay các vết cắn ở trẻ nhỏ.

Nhà sản xuất Sanofi Pasteur
Thành phần Mỗi ml: Globulin miễn dịch kháng dại đoạn F(ab')2 điều chế từ huyết thanh ngựa 200-400 IU.
Các thành phần khác: polysorbate 80, sodium chloride, nước để tiêm và hydrochloric acid hoặc sodium hydroxide để điều chỉnh pH trong khoảng từ 6,0 đến 7,0.
Dược lực FAVIRAB chứa các globulin miễn dịch kháng dại đặc hiệu.
Chỉ định FAVIRAB được chỉ định trong huyết thanh dự phòng (nghĩa là, phòng ngừa bằng cách tiêm kháng thể) bệnh dại cho các đối tượng nghi ngờ bị phơi nhiễm với virus dại, đặc biệt trong trường hợp phơi nhiễm nghiêm trọng (ví dụ như bị nhiều nhiều vết cắn nghiêm trọng ở mặt, đầu, cổ, bàn tay khi mà con vật cắn là thú nuôi hay thú hoang dại không thể theo dõi được, hay con vật đã bị nhiễm hay nghi ngờ bị nhiễm virus dại), hay các vết cắn ở trẻ nhỏ.
Theo khuyến cáo của Ủy ban Cố vấn về phòng chống bệnh dại của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, FAVIRAB được dành riêng để tiêm cùng lúc với vắc-xin phòng bệnh dại.
Trường hợp ngoại lệ duy nhất: những ai đã tiêm vắc-xin dại và xác định được nồng độ kháng thể kháng dại ở mức bảo vệ thì chỉ tiêm vắc-xin.
Liều dùng - Điều quan trọng là thực hiện nhanh việc điều trị tại chỗ vết thương do bị cắn hay vết xước có khả năng nhiễm virus dại, bất kể thời gian tiếp xúc là bao lâu.
- Biện pháp sơ cấp cứu được khuyến cáo là ngay lập tức rửa và làm sạch vết thương một cách cẩn thận bằng nước với xà phòng hay với các chất có khả năng diệt virus dại.
FAVIRAB phải được tiêm càng sớm càng tốt ngay sau khi bị phơi nhiễm.
Liều khuyến cáo là 40 IU/kg cân nặng cơ thể cho cả người lớn và trẻ em.
Tuy nhiên, đối với trẻ em, đặc biệt là trong trường hợp bị nhiều vết thương, người ta đề nghị nên pha loãng liều FAVIRAB từ 2 đến 3 lần bằng dung dịch NaCl 0,9% để đạt được đủ thể tích huyết thanh kháng dại cho việc thấm đẫm vết thương một cách phù hợp.
Không có trường hợp nào được khuyên sử dụng quá liều khuyến cáo vì globulin miễn dịch có thể ức chế một phần hoạt động sản xuất kháng thể của vắc-xin.
FAVIRAB phải được tiêm bắp chậm.
Tùy theo vị trí trên cơ thể, nên thấm đẫm FAVIRAB xung quanh và bên trong vết thương càng nhiều càng tốt. Phần còn lại của FAVIRAB (nếu có) sẽ được tiêm bắp (vùng mông) bằng một mũi tiêm.
Các vết thương ở một vài vị trí giải phẫu (các đầu ngón tay) phải được thấm đẫm cẩn thận để phòng ngừa sự gia tăng áp suất cục bộ trong mô (hội chứng chèn ép khoang).
Ủy ban Cố vấn về phòng chống bệnh dại của Tổ Chức Y Tế Thế Giới đã đưa ra khuyến cáo điều trị như sau:

Image from Drug Label Content

Ủy ban Cố vấn của Tổ Chức Y Tế Thế Giới về bệnh dại
Để phòng ngừa bệnh dại sau phơi nhiễm, việc kết hợp điều trị FAVIRAB và vắc-xin ngừa dại được khuyến cáo, mặc dù kinh nghiệm cho thấy những trường hợp phơi nhiễm nhẹ (loại II) chỉ dùng vắc-xin là có thể đủ bảo vệ.
- Liều vắc-xin dại đầu tiên phải được tiêm cùng lúc với FAVIRAB. Nếu FAVIRAB không có sẵn khi đã tiêm vắc-xin dại, thì có thể tiêm trong vòng 7 hay 8 ngày sau khi tiêm liều vắc-xin đầu tiên. Sau giai đoạn này, kháng thể do vắc-xin tạo ra đã phát huy tác dụng.
- Khi cần thiết, người ta khuyên nên tiêm phòng uốn ván và dùng các thuốc kháng khuẩn để phòng ngừa các nhiễm khuẩn khác ngoài bệnh dại.
Nếu liều khuyến cáo không được giám sát chặt chẽ (quá liều), thì có nguy cơ ảnh hưởng ức chế tạo miễn dịch (ức chế miễn dịch bảo vệ) của vắc-xin dại.
Cảnh báo FAVIRAB chỉ được tiêm tại các trung tâm kiểm soát bệnh dại, dưới sự giám sát về y khoa.
Không được tiêm FAVIRAB vào tĩnh mạch (do nguy cơ bị sốc, nghĩa là bị trụy mạch, tụt huyết áp đột ngột). Do đó, phải đảm bảo rằng kim tiêm không đâm vào lòng mạch.
Trong trường hợp đã biết tiền căn có các triệu chứng dị ứng với protein của ngựa, tốt nhất nên dùng globulin miễn dịch kháng dại có nguồn gốc từ người.
Nếu huyết thanh kháng dại nguồn gốc từ người không có sẵn, hãy tiêm ngay FAVIRAB với sự giám sát y khoa chặt chẽ để phòng ngừa khả năng xảy ra triệu chứng sốc mẫn cảm có thể xảy ra (xem phần Tác dụng ngoại ý).
Trong trường hợp bị dị ứng hay các phản ứng dị ứng toàn thân, phải ngưng tiêm ngay lập tức.
Trong trường hợp sốc, phải tiến hành điều trị ngay tình trạng sốc.
Vì bản chất FAVIRAB là protein khác loài, (nguồn gốc không phải từ người) nên luôn luôn phải lưu ý đến các tác dụng không mong muốn dạng phản ứng sốc phản vệ:
- Nhằm phát hiện trước đây bệnh nhân có nhạy cảm với protein khác loài, bệnh nhân được hỏi một cách chi tiết về tiền căn dị ứng, đặc biệt chú ý đến các mũi tiêm protein khác loài (nguồn gốc không phải từ người) và các phản ứng có thể xảy ra.
- Cũng phải chú ý đặc biệt đến các dị ứng khi tiếp xúc với động vật (đặc biệt là ngựa) hay các dị ứng với thực phẩm.
- Có thể thực hiện thử nghiệm trong da: tiêm trong da FAVIRAB có độ pha loãng 1/10 (khoảng 0,1ml) ở mặt trước cẳng tay để có được một nốt da cam (mảng cứng đường kính 3mm). Một mũi tiêm trong da tương tự với dung dịch nước muối sinh lý để đối chứng. Sau đó 15 phút đọc kết quả. Phản ứng được xem là dương tính nếu xuất hiện quầng đỏ (phát ban) (> 6mm) hay phù nề tại nơi tiêm, hay là phản ứng toàn thân trong khi tại vị trí tiêm đối chứng thì âm tính. Tuy nhiên, một kết quả kiểm tra âm tính không phải là một bảo đảm tuyệt đối là không có phản ứng tức thì nghiêm trọng hay phản ứng dị ứng kiểu chậm. Bất luận thử nghiệm này có được thực hiện hay không, bất luận kết quả như thế nào, đặc biệt với những người được xác định là có nguy cơ, FAVIRAB chỉ được tiêm dưới sự giám sát về y khoa (Xem phần Tác dụng ngoại ý).
Theo khuyến cáo của Ủy ban Cố vấn về phòng chống bệnh dại về phòng chống bệnh dại của Tổ Chức Y tế Thế Giới, FAVIRAB được dành riêng để tiêm cùng lúc với vắc-xin phòng bệnh dại (xem phần Cách dùng). Ngoại lệ duy nhất: những người trước đây đã tiêm phòng bệnh dại và chắc chắn có đủ nồng độ kháng thể trung hòa dại.
Vết cắn ở một số vị trí giải phẫu (các đầu ngón tay) phải được thấm đẫm một cách cẩn thận để phòng ngừa sự gia tăng áp suất cục bộ trong mô (hội chứng chèn ép khoang).
Lái xe và vận hành máy: Không có số liệu cho thấy rằng FAVIRAB làm giảm khả năng lái xe hay vận hành máy móc.
Tá dược gây ảnh hưởng được biết: Sodium (chloride) (ít hơn 1 milimol [hay 23 mg] sodium trong một đơn vị liều).
Sử dụng với các dược phẩm khác:
• FAVIRAB không được tiêm lặp lại. Một khi trị liệu vắc-xin đã bắt đầu, việc tiêm lặp lại FAVIRAB có thể làm giảm hiệu quả bảo vệ của vắc-xin.
• Khi điều trị kết hợp FAVIRAB và vắc-xin ngừa dại, thì vắc-xin ngừa dại phải được tiêm ở vị trí giải phẫu đối bên (nghĩa là ở phía đối diện) và dùng bơm tiêm khác với bơm tiêm FAVIRAB.
• Theo nguyên tắc chung, nên tránh dùng corticosteroid vì nó làm giảm đáp ứng miễn dịch.
Chống chỉ định Trong trường hợp biết tiền căn người sử dụng có triệu chứng dị ứng với protein ngựa (xem phần Cảnh báo).
Tuy nhiên bệnh dại có nguy cơ chết người nên không có bất kỳ chống chỉ định tiềm tàng nào.
Lúc có thai và lúc nuôi con bú Tính an toàn của sản phẩm trong thai kỳ không được xác định trong các nghiên cứu lâm sàng trên người. Vì bệnh dại kèm theo những nguy cơ chết người, có thai không phải là một chống chỉ định điều trị kháng dại sau khi bị phơi nhiễm.
Tuy nhiên, nếu được chọn lựa, thì sẽ chọn huyết thanh kháng dại có nguồn gốc từ người.
Tác dụng ngoại ý Cũng giống như các dược phẩm khác, FAVIRAB có thể gây ra một số tác dụng không mong muốn.
Các tác dụng không mong muốn xảy ra sau khi sử dụng protein khác loài (có nguồn gốc không phải từ người) đã được ghi nhận ở tỉ lệ ít hơn 10% số người sử dụng. Chủ yếu là các phản ứng kiểu dị ứng tức thì hay chậm.
- Các phản ứng tức thì gồm các phản ứng phản vệ với hạ huyết áp, khó thở, và mày đay. Trong các trường hợp hiếm (tỉ lệ ít hơn 1/10.000), các phản ứng nghiêm trọng như phù Quincke’s (sưng đột ngột vùng mặt và cổ do căn nguyên dị ứng) hay sốc phản vệ có thể gặp.
- Các phản ứng huyết thanh dạng chậm, bệnh do phản ứng dị ứng huyết thanh được báo cáo sau khi dùng protein khác loài có thể xuất hiện khoảng 6 ngày sau khi bắt đầu việc trị liệu. Các phản ứng này bao gồm các phản ứng viêm đôi khi kèm theo các triệu chứng lâm sàng như: sốt, ngứa, ban đỏ hay mày đay, bệnh lý hạch (kích thước hạch bạch huyết tăng lên), và đau khớp.
Bảo quản Bảo quản ở nhiệt độ +2oC và +8oC (trong tủ lạnh).
Phân loại MIMS Vaccin, kháng huyết thanh & thuốc miễn dịch [Vaccines, Antisera & Immunologicals]
Phân loại ATC J06BB05 - rabies immunoglobulin ; Belongs to the class of specific immunoglobulins. Used in passive immunizations.
Trình bày/Đóng gói Dung dịch tiêm: lọ 5ml.

Nguồn: mims.com


Sản phẩm cùng danh mục

Giá: 0 VNĐ

Euvax B

Vắc xin:Tạo miễn dịch chống lại sự nhiễm các tiểu nhóm (subtype) virus viêm gan siêu vi B được biết.
Giá: 0 VNĐ

Imovax Polio

Vắc xin:Phòng ngừa bệnh bại liệt. Vắc-xin này có thể dùng ở phụ nữ có thai.
Giá: 0 VNĐ

Adacel

Vắc xin:ADACEL® được chỉ định để gây miễn dịch chủ động nhắc lại nhằm phòng bệnh uốn ván, bạch hầu và ho gà, với một liều duy nhất ở người từ 4 đến 64 tuổi. Theo khuyến cáo của cơ quan chức năng tại từng quốc gia, ADACEL® có thể xem là một chọn lựa cho liều thứ năm của vắc-xin uốn ván, bạch hầu, và ho gà vô bào (DTaP) ở trẻ em từ 4 đến 6 tuổi, dùng cùng lúc với vắc-xin bại liệt bất hoạt (IPV) tại hai vị trí khác nhau để hoàn tất lịch tiêm chủng ở tuổi này, khi được chỉ định. Những người đã mắc bệnh uốn ván, bạch hầu hoặc ho gà vẫn cần phải tiêm chủng vì những bệnh nhiễm khuẩn lâm sàng này không phải lúc nào cũng tạo ra miễn dịch. Những người nhiễm virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV), có triệu chứng lẫn không có triệu chứng, nên tiêm chủng phòng bệnh uốn ván, bạch hầu và ho gà theo lịch tiêm chuẩn. Không dùng ADACEL® để chữa bệnh do nhiễm Bordetella pertussis, Corynebacterium diphtheriae hoặc Clostridium tetani. Hiện không có dữ liệu về việc sử dụng vắc-xin Adacel® để dự phòng bệnh bạch hầu ở người có tiếp xúc với bệnh nhân bạch hầu và dự phòng bệnh uốn ván ở người có vết thương nghi ngờ nhiễm uốn ván. Trong những trường hợp này, phải tuân theo hướng dẫn xử lý của Bộ Y Tế. Lão khoa: Không có số liệu lâm sàng về việc sử dụng sản phẩm này ở người trên 64 tuổi. Nhi khoa: ADACEL® không được chỉ định để tiêm chủng cho trẻ em dưới 4 tuổi.