Thông tin y tế

Những điều nên biết về ung thư cổ tử cung và cách phòng tránh

 

UTCTC vẫn là mối quan tâm sức khỏe cộng đồng và tiếp tục đe dọa cuộc sống và sức khỏe của phụ nữ. Trên toàn thế giới, UTCTC là loại ung thư đứng thứ 3 trong số các loại ung thư phổ biến ở phụ nữ. Trong năm 2012, khoảng 275.000 phụ nữ chết vì UTCTC và hơn 85% các trường hợp tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình, nơi mà phụ nữ thường không được tiếp cận tầm soát và điều trị UTCTC.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ước tính đến năm 2030, số ca tử vong do UTCTC dự kiến sẽ tăng lên 443.000 trên toàn cầu, nhiều hơn gấp đôi con số dự đoán tử vong do các biến chứng liên quan đến thai sản.

Theo PGS.TS Ngô Văn Toàn, ĐH Y Hà Nội, tại Việt Nam, UTCTC là một trong những nguyên nhân gây tử vong do ung thư thường gặp nhất. Đây là loại ung thư được xếp thứ 4 trong các loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ và đứng hàng thứ 2 trong các loại ung thư sinh dục ở nữ giới trong độ tuổi sinh sản. Năm 2012, ở Việt Nam có gần 6.200 phụ nữ được chẩn đoán mắc mới UTCTC và đã có trên 2.400 phụ nữ tử vong vì UTCTC. Một nghiên cứu được thực hiện ở phụ nữ từ 35-60 tuổi tại 7 tỉnh thành phố tại Việt Nam từ năm 2008-2010 cho thấy, tỉ lệ mắc UTCTC tại thời điểm đó là 19,9 trường hợp trên 100.000 phụ nữ.

Vi rút HPV - nguyên nhân hàng đầu của UTCTC

Nguyên nhân chính gây UTCTC là do vi rút có tên Human papillomavirus (viết tắt: HPV). Vi rút này thường gây nhiễm ở cả nam và nữ trong độ tuổi có hoạt động  tình dục.

GS.TS. Nguyễn Trần Hiển cho biết: HPV là nguyên nhân hàng đầu của UTCTC. Có hơn 100 chủng HPV đã được mô tả, trong đó có 13 chủng nguy cơ cao (đặc biệt là các chủng 16 và18). Hơn 50% phụ nữ có quan hệ tình dục sẽ bị nhiễm HPV vào một thời điểm nào đó của cuộc đời và nguy cơ nhiễm HPV trong suốt cuộc đời có thể lên tới 80%.

Các dấu hiệu cảnh báo

Theo Trung tâm nghiên cứu và phát hiện sớm ung thư, thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, các triệu chứng thường không xuất hiện cho đến khi các tế bào cổ tử cung bất thường trở thành ung thư và khi bệnh đã diễn biến xấu hơn, người phụ nữ sẽ thấy một trong những triệu chứng sau đây:

- Chảy máu âm đạo bất thường: giữa các chu kỳ kinh, sau khi quan hệ tình dục, rửa hoặc khám khung chậu, các kỳ hành kinh dài hơn bình thường và chảy máu sau khi mãn kinh.

- Chảy dịch âm đạo nhiều.

- Đau vùng khung chậu - phần bụng dưới, không liên quan tới chu kỳ kinh nguyệt.

- Đau khi quan hệ tình dục.

Theo các nhà khoa học, những thay đổi tiền ung thư và ung thư sớm của cổ tử cung không gây đau. Vì thế, phụ nữ nên đi khám phụ khoa định kỳ và làm xét nghiệm tế bào cổ tử cung (xét nghiệm PAP smear) nhằm phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường để được điều trị kịp thời.

Tiêm vắc xin ngừa HPV - cách hữu hiệu phòng ngừa UTCTC

Các chuyên gia cho biết, ứng phó quốc gia toàn diện với UTCTC bao gồm dự phòng, sàng lọc và điều trị. Vắc xin HPV là yếu tố quan trọng trong công tác UTCTC. Các bằng chứng cho thấy phần lớn UTCTC có thể phòng ngừa một cách triệt để và việc tiêm chủng phòng HPV cho trẻ em gái ở độ tuổi 12 tuổi sẽ giúp ngăn ngừa 690.000 ca nhiễm UTCTC và ngăn ngừa được 420.000 ca tử vong trên toàn thế giới. WHO khuyến cáo chú trọng vào việc tiêm vắc xin HPV cho các em gái từ 9-13 tuổi.

Vaccin có tác dụng gì đối với phụ nữ trưởng thành?

Kết quả nghiên cứu về tính sinh miễn dịch của vaccin cervarix – vaccin ngừa ung thư cổ tử cung do HPV-16 và 18 cho thấy 100% phụ nữ đến 55 tuổi có chuyển đổi huyết thanh với cả 2 týp HPV-16 và 18 sau khi tiêm. Mặc dù nồng độ kháng thể tạo ra sau tiêm vaccin tuy không cao bằng phụ nữ trẻ tuổi nhưng vẫn cao ít nhất gấp 8 lần so với kháng thể do nhiễm HPV tự nhiên sinh ra. Hiệu giá kháng thể đạt cao ở nhóm phụ nữ 26 tuổi trở lên, ngang với mức kháng thể mà hiệu quả bảo vệ đã được khẳng định trong các nghiên cứu trước đó ở phụ nữ 10-25 tuổi 

Một nghiên cứu dựa trên mô hình toán học của Elbasha EH và cộng sự đăng trên tạp chí Emerging Infectious Diseases tháng 1/2007 về tác động của vaccin phòng HPV-16 và 18 đến tỷ suất mắc mới ung thư cổ tử cung cho thấy, nếu chỉ áp dụng chủng ngừa cho trẻ em gái 12 tuổi thì phải mất hơn 30 năm mới giảm được một nửa số ca mắc hiện nay. Khi áp dụng chủng ngừa cho phụ nữ từ 12 đến 26 tuổi thì có thể đạt được mức này trong vòng 20 năm. Và nếu việc chủng ngừa được mở rộng cho lứa tuổi từ 12 đến 55 năm thì tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung sẽ giảm còn 1/3 trong vòng chỉ 10 năm.

Cuối cùng, cần nhìn nhận rằng với tình hình thực tế tại Việt Nam, việc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung qua các chương trình sàng lọc Pap smear mặc dù đã được triển khai nhiều năm nhưng mức độ bao phủ còn hạn chế, do vậy việc áp dụng chủng ngừa cho phụ nữ ở nhiều lứa tuổi hy vọng sẽ góp phần đáng kể giúp giảm số ca ung thư cổ tử cung và bảo vệ sức khỏe phụ nữ.

Tài liệu tham khảo:

 Kế hoạch hành động quốc gia trong Dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung giai đoạn 2016-2025

Skinner S.R et al, 2008. “Human papillomavirus vaccination for the prevention of cervical neoplasia: is  it appropriate to vaccinate women older than 26?’’