Vắc Xin

MMR

Vắc-xin MMR chứa các vi-rút sởi và vi-rút quai bị sống giảm độc lực, được điều chế bằng nuôi cấy tế bào phôi gà. Nó cũng chứa vi-rút rubella sống giảm độc lực, được điều chế trong nguyên bào sợi phổi lưỡng bội của người.

- Chỉ định :

  • Tạo miễn dịch chủ động phòng bệnh sởi, quai bị và rubella ở trẻ từ 12 tháng tuổi đến 10 tuổi.

  • Mũi tiêm MMR thứ hai có thể được tiêm vào bất cứ thời gian nào trước 6 tuổi (độ tuổi vào tiểu học từ 4-6 tuổi).

  • Ở trẻ trên 10 tuổi, thanh thiếu niên và người trưởng thành, khuyến cáo nhắc lại đối với sởi và rubella

  • Tiêm nhắc lại có thể làm chuyển dịch huyết thanh cho những người không có đáp ứng với mũi tiêm thứ nhất hoặc tăng cao hiệu giá kháng thể ở những người đã tiêm vắcxin nhưng hiệu giá kháng thể bị giảm.

  • Ủy ban tư vấn về thực hành tiêm chủng (ACIP) khuyến cáo nên tiêm MMR mũi thứ nhất ở 12-15 tháng tuổi và mũi thứ 2 ở 4-6 tuổi.

  • Tiêm chủng cho nữ giới độ tuổi thanh thiếu niên và trưởng thành không mang thai được chỉ định nếu có những cảnh báo chắc chắn (xem phần CHỐNG CHỈ ĐỊNH).

  • Vắcxin có thể được tiêm cùng với DTP, DT,TT,Td, BCG và vắcxin Polio (OPV và IPV), Haemophilus influenza tuýp b, vắcxin viêm gan B , vắc xin sốt vàng và bổ sung vitamin A.

- Liều dùng :

Liều vắc-xin MMR là 0,5 mL tiêm dưới da. Vắc-xin MMR thường được chích cho trẻ em theo 2 liều: một liều khi được 12 đến 15 tháng tuổi và một liều khi được 4 đến 6 tuổi.

- Cách dùng :

  • Vắcxin phải được pha với nước hồi chỉnh đi kèm (nước cất pha tiêm vô trùng), sử dụng bơm và kim tiêm vô trùng.

  • Lắc nhẹ để hòa tan viên đông khô. Sau khi pha phải tiêm vắcxin ngay.

  • Một liều đơn 0,5ml được tiêm theo đường tiêm dưới da sâu ở mặt trước bên đùi đối với trẻ nhỏ và bắp tay đối với trẻ lớn hơn.

  • Nếu không sử dụng ngay, vắc xin đã pha phải được bảo quản ở chỗ tối với nhiệt độ 2°C -8°C trong thời gian dài nhất là 6 giờ.

  • Lọ vắc xin đã mở (trong vòng 6 giờ kể từ khi pha) nếu còn thừa phải loại bỏ. Dấu hiệu theo dõi nhiệt độ lọ (VVM- xem chi tiết), sẽ phải bóc ngay khi pha.

  • Nước hồi chỉnh kèm theo được điều chế đặc biệt cho loại vắc xin này. Chỉ sử dụng nước hồi chỉnh cung cấp kèm theo để pha vắcxin. Không được sử dụng nước hồi chỉnh của vắcxin khác hoặc của vắc xin MMR của nhà sản xuất khác. Sử dụng sai nước hồi chỉnh có thể làm hỏng vắcxin và/hoặc gây những phản ứng nghiêm trọng cho người sử dụng. Nước hồi chỉnh không được để đông băng nhưng phải giữ ở điều kiện mát.

- Chống chỉ định :

  • Phản ứng dị ứng nặng (ví dụ: phản vệ) sau khi dùng liều trước đó hoặc với một thành phần của vắc-xin, bao gồm cả neomycin

  • Suy giảm miễn dịch nguyên phát hoặc mắc phải nặng đã biết (ví dụ: do bệnh bạch cầu, u lympho, khối u đặc, khối u ảnh hưởng đến tủy xương hoặc hệ bạch huyết, AIDS, nhiễm HIV nặng, điều trị bằng hóa trị liệu hoặc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch lâu dài)

  • Mang thai (tiêm vắc-xin được hoãn lại cho đến khi sinh nở)

  • Tiền sử gia đình có người thân cấp độ 1 (bố mẹ hoặc anh chị em) bị suy giảm miễn dịch di truyền bẩm sinh, trừ khi người được tiêm vắc-xin được biết là có đủ khả năng miễn dịch

Chỉ chống chỉ định nhiễm HIV nếu suy giảm miễn dịch nghiêm trọng (CDC miễn dịch loại 3 với CD4 < 15% hoặc số lượng CD4 < 200 tế bào/mcL); nếu tình trạng suy giảm miễn dịch không nặng, nguy cơ mắc bệnh sởi tự nhiên cao hơn nguy cơ mắc bệnh sởi do vắc-xin sống.

Phụ nữ đã chích vắc-xin nên tránh mang thai trong vòng ≥ 28 ngày sau đó. Vi-rút trong vắc-xin có thể lây nhiễm sang thai nhi trong thời kỳ đầu mang thai. Vắc-xin không gây ra hội chứng rubella bẩm sinh, nhưng nguy cơ gây tổn thương thai nhi ước tính khoảng ≤ 3%.

- Tương tác thuốc :

  • Do nguy cơ bị mất hoạt tính, nên không tiêm vắc xin MMR trong vòng 6 tuần và nếu có thể trong vòng 3 tháng kể từ khi sử dụng immunoglobulins hoặc một sản phẩm máu khác có chứa immunoglobulins (máu hoặc huyết tương).

  • Cũng với lý do trên, không được sử dụng immunoglobulins trong vòng 2 tuần sau khi tiêm vắc xin.

  • Những người có phản ứng Tuberculin dương tính có thể chuyển thành âm tính sau khi tiêm vắc xin.

- Tác dụng không mong muốn :

  • Loại và tỉ lệ phản ứng phụ nghiêm trọng không có khác biệt nhiều so với các phản ứng phụ từ vắc xin sởi, quai bị và rubella đã được báo cáo riêng lẽ.

  • Trong vòng 24h sau khi tiêm, vắc xin sởi có thể gây đau nhẹ và nhạy cảm vùng tiêm. Trong phần lớn các trường hợp các triệu chứng thường tự khỏi sau 2 đến 3 ngày mà không cần có sự can thiệp về y tế.

  • Sốt nhẹ cũng có thể xảy ra trong khoảng 7-12 ngày sau tiêm và kéo dài 1-2 ngày, chiếm tỉ lệ 5-15% người được tiêm.

  • Phát ban xảy ra khoảng 2% người được tiêm, thường bắt đầu 7-10 ngày sau tiêm và kéo dài 2 ngày.

  • Các phản ứng phụ nhẹ không xảy ra thường xuyên sau khi tiêm mũi thứ 2 vắc xin có thành phần kháng nguyên sởi và có xu hướng chỉ xảy ra với người không có bảo vệ từ mũi thứ nhất.

  • Thành phần rubella trong vắc xin có thể gây triệu chứng rõ ràng như đau khớp (25%) và viêm khớp (10%) ở nữ giới độ tuổi thanh thiếu niên và trưởng thành. Các triệu chứng này thường xảy ra sau khi tiêm vắc xin từ 1-3 tuần và kéo dài từ vài ngày đến 2 tuần. Tuy nhiên các phản ứng này hiếm gặp ở trẻ em và nam giới (0-3%). Các phản ứng này thường xảy ra ở người không có miễn dịch, vì vậy việc tiêm vắc xin là rất quan trọng.

  • Sốt nhẹ, ngứa, nổi hạch bạch huyết, đau cơ và cảm giác khó chịu được báo cáo là phổ biến.

  • Ở một số trường hợp rất hiếm gặp, ở người mẫn cảm, vắc xin có thể gây dị ứng nổi mề đay, ngứa và phát ban trong vòng 24h sau tiêm.

- Bảo quản :

TẤT CẢ VẮC XIN ĐÔNG KHÔ VÀ VẮC XIN ĐÃ HỒI CHỈNH ĐỀU PHẢI TRÁNH ÁNH SÁNG

Cần bảo quản vắc xin ở chỗ tối ở nhiệt độ từ 2-8°C.

Nước hồi chỉnh phải được bảo quản ở nơi mát, nhưng không được để đông băng.