Vắc Xin

Cervarix

Thông tin sản phẩm:

Vắc xin: Cervarix là một vắc-xin phòng ngừa các tổn thương tiền ung thư ác tính và ung thư cổ tử cung gây ra bởi một số tuýp virus papiloma có khả năng gây ung thư ở người. Xin xem thêm phần "Cảnh báo" và "Dược lực học" để có thêm thông tin quan trọng giúp hiểu rõ hơn chỉ định này. Chỉ định được dựa trên bằng chứng về hiệu quả trên phụ nữ độ tuổi 15-25 sau khi tiêm chủng vắc-xin Cervarix và dựa trên tính sinh miễn dịch của vắc-xin ở các bé gái và phụ nữ ở độ tuổi 10-25 tuổi.

 

Nhà sản xuất GlaxoSmithKline
Thành phần Mỗi liều 0.5ml: Protein L1 của Papillomavirus tuýp 16 ở người1 20mcg, protein L1 của papillomavirus tuýp 18 ở người1 20mcg, 3-O-deacyl-4'-monophosphoryl lipid A (MPL)2 50mcg, hydroxide nhôm, hydrate hóa2 0.5miligram Al3+.
1Protein L1 dưới dạng các tiểu thể giống với virus nhưng không gây nhiễm (VLPs) được sản xuất bằng công nghệ tái tổ hợp ADN sử dụng hệ thống hiển thị Baculovirus.
2Hệ bổ trợ AS04 độc quyền của GlaxoSmithKline là phức hợp của hydroxide nhôm và 3-O-deacyl-4'-monophosphoryl lipid A (MPL) (xem Cảnh báo và Dược lực học).
Cơ chế tác dụng Nhiễm dai dẳng các tuýp HPV gây ung thư là nguyên nhân của gần như toàn bộ các trường hợp ung thư cổ tử cung trên toàn cầu.
Cervarix là vắc-xin tái tổ hợp không gây nhiễm được sản xuất từ các tiểu thể tương tự virus (VLPs) có độ tinh khiết cao với thành phần là protein vỏ chính L1 của HPV gây ung thư tuýp 16 và 18. Do VLPs không chứa ADN của virus nên không có khả năng gây nhiễm tế bào, tái sinh hay gây bệnh. Các nghiên cứu trên động vật đã chứng minh hiệu quả của vắc-xin L1 VLP chủ yếu là kích thích tạo ra đáp ứng miễn dịch dịch thể và trí nhớ miễn dịch qua trung gian tế bào.
Kết quả nghiên cứu lâm sàng cho thấy Cervarix được bổ trợ với AS04 có tác dụng tạo đáp ứng miễn dịch kéo dài và cao hơn so với các kháng nguyên cùng loại chỉ được bổ trợ với tá dược là muối nhôm [Al(OH)3].
Ung thư cổ tử cung xâm nhiễm bao gồm ung thư tế bào vảy cổ tử cung (84%) và ung thư biểu mô tuyến (16%, chiếm tới 20% ở các nước phát triển có triển khai chương trình khám tầm soát).
HPV-16 và HPV-18 là nguyên nhân của gần 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung ở khắp các khu vực trên thế giới. Các tuýp HPV gây ung thư khác (HPV-31, -33, -35, -39, -45, -51, -52, -56, -58, -59, -66, -68) cũng có gây ung thư cổ tử cung. HPV-16, -18, -45, -31 là 4 tuýp thường gây ung thư tế bào vảy cổ tử cung (gần 76%) và ung thư biểu mô tuyến (gần 91%).
Bằng chứng về đáp ứng nhắc lại (trí nhớ miễn dịch)
Sử dụng liều thử thách trung bình khoảng 6.8 năm sau lần tiêm phòng đầu tiên tạo nên đáp ứng miễn dịch nhắc lại đối với HPV-16 và HPV-18 (xác định bằng phương pháp ELISA và phản ứng trung hòa dùng hạt giả virion) vào ngày thứ 7. Quan sát thấy hiệu giá kháng thể trung bình nhân sau khi tiêm liều nhắc lại một tháng vượt quá so với thời điểm một tháng sau liệu trình tiêm chủng cơ bản.
Đáp ứng nhắc lại cũng quan sát thấy ở một số chủng liên quan HPV-31 và HPV-45 bằng phương pháp ELISA.
Dược lực Hiệu quả phòng bệnh
Hiệu quả của Cervarix được đánh giá trong hai thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng (HPV-001/007 và HPV-008) với sự tham gia của tổng cộng 19.778 phụ nữ từ 15 đến 25 tuổi.
Thử nghiệm HPV-001/007 được tiến hành ở Bắc Mỹ và Mỹ La-tinh. Tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu gồm: âm tính với ADN HPV gây ung thư (HPV-16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66 và 68) khi xét nghiệm mẫu cổ tử cung, huyết thanh âm tính đối với kháng thể kháng HPV-16 và HPV-18 và tế bào học bình thường. Các đặc tính này đại diện cho một quần thể chưa phơi nhiễm với các tuýp HPV gây ung thư trước khi tiêm vắc-xin.
Thử nghiệm lâm sàng HPV-008 đã được tiến hành tại Bắc Mỹ, Mỹ La-tinh, Châu Âu, Châu Á Thái Bình Dương và Úc. Trước khi tiêm vắc-xin, tiến hành lấy mẫu để xác định ADN của HPV gây ung thư (HPV-16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66 và 68) và kháng thể kháng HPV-16 và HPV-18 trong huyết thanh. Toàn bộ các phụ nữ đều được tiêm vắc-xin không xét đến kết quả tế bào học và huyết thanh ban đầu cũng như tình trạng ADN. Các đặc tính này đại diện cho quần thể bao gồm cả những phụ nữ đã hoặc đang phơi nhiễm với HPV.
Giống như bất kỳ thử nghiệm đánh giá hiệu quả phòng bệnh nào, các đối tượng nhiễm ban đầu với một tuýp HPV đặc trưng nào đó sẽ không được chọn để đánh giá hiệu quả với tuýp đó.
Trong cả hai thử nghiệm, các tổn thương dưới đây được đánh giá:
* CIN2+ (Tăng sinh nội biểu mô cổ tử cung độ 2 và các tổn thương ở mức độ cao hơn)
* CIN1+ (Tăng sinh nội biểu mô cổ tử cung độ 1 và các tổn thương ở mức độ cao hơn)
* Các bất thường về tế bào học bao gồm các tế bào vảy không điển hình ở mức độ không xác định (ASC-US), các tổn thương nội biểu mô vẩy ở mức độ thấp (LSIL), các tổn thương nội biểu mô vẩy ở mức độ cao (HSIL) và ASC-US có mức độ nghi ngờ cao (ASC-H).
* Nhiễm kéo dài 6 tháng được xác định khi có ít nhất 2 mẫu dương tính với cùng một tuýp HPV trong khoảng thời gian tối thiểu là 5 tháng.
* Nhiễm kéo dài 12 tháng được xác định khi có ít nhất 2 mẫu dương tính với cùng một tuýp HPV trong khoảng thời gian tối thiểu là 10 tháng.
Trong nghiên cứu HPV-008, các tổn thương dưới đây cũng được đánh giá:
* CIN3+ (Tăng sinh nội biểu mô cổ tử cung độ 3 và các tổn thương ở mức độ cao hơn)
* VIN1+ (Tăng sinh nội biểu mô âm hộ độ 1 và các tổn thương ở mức độ cao hơn)
* VaIN1+ (Tăng sinh nội biểu mô âm đạo độ 1 và các tổn thương ở mức độ cao hơn).
Tăng sinh nội biểu mô cổ tử cung (CIN) độ 2 và 3 (CIN2+) được sử dụng như một dấu hiệu chỉ điểm đối với ung thư cổ tử cung trong các thử nghiệm lâm sàng. Nhiễm virus kéo dài ít nhất 6 tháng cũng được coi là một dấu hiệu chỉ điểm đối với ung thư cổ tử cung. Cho dù CIN độ 1 không được xem là dấu hiệu chỉ điểm đối với ung thư cổ tử cung nhưng các thương tổn này vẫn cần phải được theo dõi về mặt y tế.
Hiệu quả của vắc-xin ngừa HPV-16/18 ở các phụ nữ chưa phơi nhiễm với các tuýp HPV gây ung thư (nghiên cứu HPV-001/007)
Kết quả về hiệu quả đối với các thương tổn về mô bệnh học có liên quan đến HPV-16 hoặc HPV-18 (HPV-16/18) được chứng minh trong nghiên cứu HPV-001/007 (Đoàn hệ toàn bộ đối tượng nghiên cứu nghĩa là n các phụ nữ được tiêm ít nhất một liều vắc-xin) trình bày trong bảng 1:

Image from Drug Label Content

Hiệu quả phòng ngừa các bất thường về tế bào học do HPV-16/18 là 96,7% (95% CI: 87,3; 99,6).
Hiệu quả phòng ngừa nhiễm HPV-16/18 kéo dài ở thời điểm được xác định sau 6 tháng và 12 tháng lần lượt là 98,2% (95% CI:89,5; 100) và 96,9% (95% CI: 81,4; 99,9).
Trong nghiên cứu HPV-001/007, các phụ nữ được tiếp tục theo dõi về hiệu quả bảo vệ của vắc-xin cho tới 6,4 năm (gần 77 tháng) sau mũi tiêm đầu tiên. Mặc dù có bằng chứng cho thấy có sự tiếp tục phơi nhiễm như quan ssát thấy ở nhóm đối chứng, không có bằng chứng nào cho thấy giảm mức độ bảo vệ ở nhóm phụ nữ tiêm vắc-xin.
Hiệu quả của văc-xin ở các phụ nữ đã hoặc đang nhiễm HPV (nghiên cứu HPV-008)
Trong nghiên cứu HPV-008, các phân tích ban đầu về hiệu quả được tiến hành trên đoàn hệ tuân thủ đúng theo đề cương (đoàn hệ ATP: bao gồm các phụ nữ tiêm 3 mũi vắc-xin và không nhiễm các tuýp HPV được đánh giá vào thời điểm 0 và 6 tháng) và trên đoàn hệ được tiêm vắc-xin - 1 (nhóm TVC-1: bao gồm tất cả các phụ nữ đã tiêm ít nhất một mũi vắc-xin và không nhiễm các tuýp HPV được đánh giá vào thời điểm 0 tháng. Cả hai đoàn hệ này đều bao gồm cả các phụ nữ có xét nghiệm tế bào học bình thường hoặc tổn thương ở mức độ thấp và chỉ loại trừ các phụ nữ có tổn thương tế bào học ở mức độ cao (0,5%).
Thêm vào đó, các phân tích hiệu quả được thực hiện trên đoàn hệ được tiêm vắc-xin rộng hơn (đoàn hệ TVC, bao gồm toàn bộ các phụ nữ đã được tiêm vắc-xin) và đoàn hệ TVC-không phơi nhiễm (TVC-naive, bao gồm toàn bộ phụ nữ đã tiêm ít nhất 1 liều văc-xin có tế bào bình thường, xét nghiệm HPV DNA âm tính đối với 14 tuýp HPV gây ung thư và có xét nghiệm huyết thanh ban đầu âm tính đối với HPV-16 và HPV-18).
Trong nghiên cứu HPV-008, gần 26% phụ nữ có dấu hiệu đang hoặc đã từng nhiễm HPV-16/18 và dưới 1% các phụ nữ có xét nghiệm HPV ADN ban đầu dương tính với cả hai tuýp HPV-16 và HPV-18.
+ Tóm tắt kết quả về hiệu quả:
Trong nghiên cứu HPV-008, hiệu quả của vắc-xin ngừa HPV-16/18 có ý nghĩa thống kê đã được chứng minh trên đoàn hệ ATP và đoàn hệ TVC-1 đối với các tổn thương dưới đây:
· Tổn thương về mô học:
° CIN2+ và CIN1+ (Bảng 2 và 3)
Thêm vào đó, hiệu quả vắc-xin ngừa CIN2+ có ý nghĩa thống kê được chứng minh đối với từng tuýp HPV-16 và HPV-18 riêng rẽ.
· Tổn thương về virus học và tế bào học
° Nhiễm kéo dài 6 tháng và 12 tháng (Bảng 4)
° Bất thường tế bào học (≥ ASCUS) (Bảng 4)
· Tổn thương tại âm hộ và âm đạo
° VIN1+ hoặc VaIN1+
Đồng thời với hiệu quả vắc-xin ngừa HPV-16 và HPV-18, các kết quả dưới đây đã được chứng minh trong nghiên cứu HPV-008:
· Hiệu quả vắc-xin ngừa CIN3+, CIN2+ và CIN1+ không tính đến tuýp ADN của HPV trong tổn thương và không tính đến tình trạng huyết thanh ban đầu đã được chứng minh trên đoàn hệ TVC và TVC-không phơi nhiễm. Trên các đoàn hệ này, Cervarix cũng cho hiệu quả giảm bớt liệu trình điều trị tại chỗ ở cổ tử cung.
· Hiệu quả vắc-xin ngừa các tuýp HPV gây ung thư không có trong vắc-xin cũng được chứng minh trên đàon hệ ATP và TVC-1.
+ Các kết quả chi tiết về hiệu quả
· Hiệu quả bảo vệ ngừa HPV-16/18 ở các phụ nữ chưa phơi nhiễm với các tuýp HPV-16 và/hoặc HPV-18.
Trong nghiên cứu HPV-008, gần 26% phụ nữ có dấu hiệu đang hoặc đã từng nhiễm HPV-16/18 và < 1% các phụ nữ có xét nghiệm HPV ADN ban đầu dương tính với cả hai tuýp HPV-16 và HPV-18.
Phân tích cuối cùng của nghiên cứu HPV-008 là phân tích dựa vào biến cố, nghĩa là được thực hiện khi có ít nhất 36 trường hợp CIN2+ liên quan đến HPV-16/18 xảy ra trong đoàn hệ ATP. Thời gian theo dõi trung bình trong nghiên cứu là khoảng 39 tháng sau liều đầu tiên.
Phân tích kết thúc nghiên cứu được thực hiện ở cuối quá trình theo dõi 4 năm (tức là 48 tháng sau liều đầu tiên) và bao gồm tất cả đối tượng nghiên cứu trong đoàn hệ TVC.

Image from Drug Label Content

Thêm vào đó, ở thời điểm của phân tích nghiên cứu cuối cùng, hiệu quả của vắc-xin có ý nghĩa thống kê ngừa CIN2+ liên quan đến từng tuýp HPV-16 và HPV-18 đã được thấy trong cả hai đoàn hệ khi phân tích đặc hiệu theo đề cương.
Các theo dõi sâu hơn xác định một số trường hợp CIN3+, CIN2+ và CIN1+ có nhiễm đa tuýp HPV gây ung thư trong tổn thương. Để phân biệt rõ giữa các tuýp HPV được xem là nguyên nhân có thể nhất đối với tổn thương và các tuýp HPV chỉ được xem là có liên quan tạm thời, việc phân định tuýp HPV đã được tiến hành (phân tích sâu). Phân định tuýp HPV là phát hiện thấy các tuýp HPV bằng phản ứng chuỗi polymerase (PCR) có mặt ít nhất ở một trong hai mẫu tế bào học kế tiếp nhau ngoài việc chỉ phát hiện được trong tổn thương. Dựa trên việc phân định tuýp HPV này, quá trình phân tích thử nghiệm lâm sàng sẽ loại trừ đi các trường hợp CIN1+ và CIN2+ (trong nhóm tiêm vắc-xin và trong nhóm chứng) được xác định nguyên nhân không phải liên quan đến nhiễm HPV-16 và HPV-18 (bảng 3).

Image from Drug Label Content

Ngoài ra, ở thời điểm phân tích nghiên cứu cuối cùng, hiệu quả của vắc-xin có ý nghĩa thống kê ngừa CIN2+ liên quan đến từng tuýp HPV-16 và HPV-18 đã được thấy trong cả hai đoàn hệ khi phân định tuýp HPV (bảng 4).

Image from Drug Label Content

Ở thời điểm phân tích nghiên cứu cuối cùng, hiệu quả của vắc-xin có ý nghĩa thống kê ngừa VIN1+ hoặc VaIN1+ liên quan đến HPV-16/18 cũng được thấy ở cả hai đoàn hệ: 80,0% (96,1% CI: 0,3;98,1) ở đoàn hệ ATP và 83,2% (96,1% CI: 20,2;98,4) ở đoàn hệ TVC-1. Ở thời điểm phân tích kết thúc nghiên cứu, hiệu quả của vắc-xin chống lại VIN1+ hoặc VaIN1+ liên quan HPV-16/18 là 75.1% (95% CI:22.9,94.0) ở đoàn hệ ATP và 77.7% (95%CI:32.4,94.5) ở đoàn hệ TVC-1.
Chưa có các bằng chứng về khả năng ngừa các bệnh gây ra bởi các tuýp HPV cho các đối tượng có ADN HPV dương tính khi vào nghiên cứu. Tuy nhiên, các đối tượng đã nhiễm một trong các tuýp HPV có trong vắc-xin trước khi tiêm phòng được bảo vệ khỏi các bệnh có căn nguyên bởi tuýp HPV khác.
· Tác động tổng thể của vắc-xin đối với gánh nặng bệnh tật do HPV gây ra
Hiệu quả tổng thể của vắc-xin không xét đến tuýp ADN của HPV trong tổn thương và phân tầng dựa trên ADN HPV ban đầu và tình trạng huyết thanh được đánh giá trong nghiên cứu HPV-008.
Trong đoàn hệ TVC và TVC-không phơi nhiễm, bao gồm tất cả phụ nữ tiêm vắc-xin, hiệu quả của vắc-xin chống lại CIN3+, CIN2+ và CIN1+ được thể hiện trong bảng 5. Tác động của Cervarix làm giảm thiểu việc sử dụng các biện pháp điều trị cục bộ ở cổ tử cung (quy trình khoét chóp bằng vòng điện, cắt cổ tử cung Cone, dùng dao hoặc laser) cũng được đánh giá trên cùng đoàn hệ (bảng 5).
Đoàn hệ TVC-không phơi nhiễm là nhóm nhỏ của TVC, bao gồm những phụ nữ có tế bào học bình thường, có ADN HPV âm tính đối với 14 tuýp HPV gây ung thư (HPV-16, -18, -31, -33, -35, -39, -45, -51, -52, -56, -58, -59, -66, -68) và xét nghiệm huyết thanh ban đầu âm tính với HPV-16 và HPV-18.

Image from Drug Label Content

· Hiệu quả phòng ngừa đối với lây nhiễm các tuýp HPV gây ung thư khác ngoài HPV-16 và HPV-18
Trong nghiên cứu HPV-008, hiệu quả của vắc-xin chống lại 12 tuýp HPV gây ung thư không có trong vắc-xin (HPV-31, -33, -35, -39, -45, -51, -52, -56, -58, -59, -66, -68) được đánh giá trong đoàn hệ ATP và đoàn hệ TVC-1.
Hiệu quả của vắc-xin chống lại nhiễm kéo dài 6 tháng và CIN2+ liên quan những tuýp HPV gây ung thư đơn lẻ không có trong vắc-xin quan sát ở đoàn hệ ATP được thể hiện trong bảng 6.

Image from Drug Label Content

Ở thời điểm phân tích nghiên cứu cuối cùng, hiệu quả bảo vệ của vắc-xin có ý nghĩa thống kê chống lại nhiễm kéo dài 6 tháng đã được quan sát đối với các tuýp HPV 31, 33, và 45 trong đoàn hệ ATP và các tuýp HPV 31, 33, 45 và 51 trong đoàn hệ TVC-1. Hiệu quả đáng kể có ý nghĩa thống kê của vắc-xin chống lại CIN2+ đã được quan sát đối với các tuýp HPV 31, 51 và 58 trong đoàn hệ ATP và các tuýp HPV 31, 33, 35 và 51 trong đoàn hệ TVC-1.
Ở thời điểm kết thúc phân tích nghiên cứu, nhiều trường hợp được quan sát thấy và giới hạn dưới trên giá trị 0 (95% CI) đối với các tuýp HPV 31, 33, 45 và 51 cho nhiễm kéo dài 6 tháng và CIN2+ trong cả đoàn hệ ATP và TVC-1. Đối với CIN2+, giới hạn dưới trên giá trị 0 (95% CI) đã được quan sát ở tuýp HPV 39 ở đoàn hệ ATP và tuýp HPV 66 ở đoàn hệ TVC-1.
Ở thời điểm phân tích nghiên cứu cuối cùng, hiệu quả đáng kể của vắc-xin chống lại CIN2+ đối với tất cả các tuýp HPV kết hợp (HPV-31, -33, -35, 39, -45, -51, -52, -56, -58, -59, -66, -68) ngoại trừ tuýp HPV-16 và HPV-18 được thấy đạt 54.0% (96.1% CI: 34.0,68.4) trong đoàn hệ ATP và 46.0% (96.1% CI: 27.0,60.3) trong đoàn hệ TVC-1. Ở thời điểm kết thúc phân tích nghiên cứu, hiệu quả của vắc-xin chống lại CIN2+ cho tất cả các tuýp HPV kết hợp ngoại trừ HPV 16 và HPV 18 là 46.8% (95% CI: 30.7,59.4) ở đoàn hệ ATP và 40.8% (95% CI: 25.5,53.1) ở đoàn hệ TVC-1.
Tính sinh miễn dịch của vắc-xin
Đáp ứng kháng thể đối với HPV-16 và HPV-18 được xác định bằng thử nghiệm ELISA đặc hiệu cho thấy có sự tương quan chặt chẽ với phản ứng trung hòa (như phản ứng dùng hạt giả virion do Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ phát triển). Sự thẩm thấu kháng thể từ huyết thanh ra dịch nhầy cổ tử cung đã được xác định trong các thử nghiệm lâm sàng.
Trong các thử nghiệm lâm sàng, 99% đối tượng huyết thanh âm tính ban đầu đã có chuyển đổi huyết thanh đối với cả 2 tuýp HPV-16 và 18 sau khi tiêm vắc-xin mũi thứ 3 một tháng. Hiệu giá trung bình nhân (GMT) kháng thể IgG tạo ra bởi vắc-xin cao hơn hiệu giá đo được ở các phụ nữ bị nhiễm HPV trước đó nhưng đã khỏi (nhiễm tự nhiên). Đối tượng có huyết thanh ban đầu dương tính và âm tính đều đạt được hiệu giá như nhau sau tiêm phòng vắc-xin.
+ Đáp ứng miễn dịch ở phụ nữ từ 15 đến 25 tuổi
Đáp ứng miễn dịch chống lại HPV-16 và HPV-18 được đánh giá cho tới thời điểm 76 tháng sau khi tiêm mũi vắc-xin đầu tiên trong nghiên cứu HPV-001/007 ở các phụ nữ từ 15 đến 25 tuổi tại thời điểm tiêm vắc-xin. Trong nghiên cứu HPV-23, đáp ứng miễn dịch tiếp tục được đánh giá tới thời điểm 8.4 năm (100.8 tháng) sau đợt tiêm phòng đầu tiên đối với một tập hợp con của đối tượng trong nghiên cứu HPV-001/007.
Trong nghiên cứu HPV-023, ≥ 100% phụ nữ dương tính với cả chủg HPV-16 và HPV-18 xác định bằng phương pháp ELISA hoặc phản ứng trung hòa dùng hạt giả virion (PBNA) tới thời điểm 8.4 năm sau đợt tiêm phòng đầu tiên.
Trong nghiên cứu HPV-008, đáp ứng miễn dịch tới tháng thứ 48 cũng tương tự với đáp ứng miễn dịch quan sát được trong nghiên cứu HPV-001/007. Diễn tiến về động học tương tự cũng được thấy đối với kháng thể trung hòa.
+ Bắc cầu hiệu quả của Cervarix ở phụ nữ từ 15 đến 25 tuổi cho các lứa tuổi 10-14 tuổi
Trong 2 thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trên bé gái và thiếu niên từ 10-14 tuổi, tất cả các đối tượng nghiên cứu đều có chuyển đổi huyết thanh đối với cả 2 tuýp HPV-16 và HPV-18 sau mũi tiêm thứ 3 (tháng thứ 7) với GMT cao hơn ít nhất 2 lần so với các phụ nữ từ 15 đến 25 tuổi.
Dược động học Không yêu cầu đánh giá đặc tính dược động học đối với vắc-xin.
An toàn tiền lâm sàng Tính sinh ung thư/gây đột biến
Chưa có nghiên cứu nào được thực hiện với Cervarix. Tuy nhiên, hệ thống chất bổ trợ MLP không sinh đột biến qua các thử nghiệm sinh đột biến chuẩn.
Độc tính học đối với hệ sinh sản
Những nghiên cứu trên động vật thực hiện với Cervarix ở chuột nhắt cái không cho thấy ảnh hưởng bất lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đến khả năng sinh sản, thai kỳ, sự phát triển của phôi/bào thai, quá trình sinh đẻ hoặc sự phát triển sau khi sinh.
Độc tính và/hoặc dược lý học trên động vật
Các dữ liệu tiền lâm sàng  cho thấy vắc-xin không có tác hại nghiêm trọng  đặc hiệu với người dựa trên các nghiên cứu tương đương về độc tính cấp tính và độc tính liều nhắc lại, mức độ dung nạp tại chỗ và tính an toàn dược học trên hệ tim mạch/hô hấp.
Chỉ định Cervarix là một vắc-xin phòng ngừa các tổn thương tiền ung thư ác tính và ung thư cổ tử cung gây ra bởi một số tuýp virus papiloma có khả năng gây ung thư ở người. Xin xem thêm phần "Cảnh báo" và "Dược lực học" để có thêm thông tin quan trọng giúp hiểu rõ hơn chỉ định này.
Chỉ định được dựa trên bằng chứng về hiệu quả trên phụ nữ độ tuổi 15-25 sau khi tiêm chủng vắc-xin Cervarix và dựa trên tính sinh miễn dịch của vắc-xin ở các bé gái và phụ nữ ở độ tuổi 10-25 tuổi.
Liều dùng Liều lượng
Liệu trình tiêm chủng cơ bản bao gồm 3 mũi tiêm.
Liệu trình tiêm chủng được khuyến cáo là 0, 1 và 6 tháng. Nếu cần thiết phải thay đổi lịch tiêm chủng, mũi thứ 2 có thể được tiêm vào thời điểm từ 1 đến 2,5 tháng sau mũi thứ nhất và mũi thứ 3 tiêm vào thời điểm từ 5 đến 12 tháng sau mũi thứ nhất.
Mặc dù sự cần thiết phải tiêm mũi nhắc lại hiện chưa được xác lập, đáp ứng nhắc lại được quan sát thấy sau khi tiêm liều thử thách (xem phần Dược lực học).
Cách dùng
Cervarix được dùng để tiêm bắp vào vùng cơ delta (xem phần Cảnh báo và Tương tác).
Cảnh báo Thực hiện tiêm chủng theo thực hành lâm sàng tốt bằng cách hỏi tiền sử về sức khỏe (đặc biệt là các thông tin liên quan đến lần tiêm chủng trước đó và khả năng xuất hiện các tác dụng không mong muốn) và thăm khám lâm sàng.
Cũng như các vắc-xin dạng tiêm khác, nên có sẵn các phương tiện theo dõi và điều trị thích hợp để phòng ngừa trường hợp phản vệ xuất hiện sau tiêm chủng, mặc dù hiếm gặp.
Có thể xuất hiện hiện tượng ngất xỉu sau hoặc thậm chí trước khi tiêm do phản ứng tâm lý đối với mũi tiêm. Điều quan trọng trong khi tiêm là nên chọn địa điểm thích hợp để tránh bị thương do ngất xỉu.
Cũng như các vắc-xin khác, nên trì hoãn tiêm vắc-xin Cervarix ở những người đang sốt cao cấp tính. Tuy nhiên, khi có biểu hiện nhiễm khuẩn nhẹ như cảm thì không cần phải trì hoãn tiêm chủng.
Không được tiêm Cervarix theo đường tĩnh mạch hoặc trong da. Chưa có dữ liệu nghiên cứu đối với đường tiêm dưới da của vắc-xin Cervarix.
Giống với hầu hết các loại vắc-xin, đáp ứng miễn dịch bảo vệ có thể không được tạo ra ở toàn bộ các đối tượng được tiêm chủng.
Cervarix là một vắc-xin dự phòng. Vắc-xin này không ngăn chặn được sự tiến triển của các tổn thương liên quan đến HPV đã hiện diện tại thời điểm tiêm vắc-xin.
Cervarix không tạo ra tác dụng bảo vệ đối với tất cả các tuýp HPV gây ung thư (xem phần Dược lực học).
Tiêm chủng là biện pháp dự phòng ban đầu và không thay thế cho biện pháp sàng lọc cổ tử cung định kỳ (biện pháp dự phòng thứ phát) cũng như các cảnh báo về việc phơi nhiễm HPV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Chưa có dữ liệu về việc dùng vaccine Cervarix cho những bệnh nhân suy giảm miễn dịch như bệnh nhân nhiễm HIV hoặc bệnh nhân đang điều trị các thuốc ức chế miễn dịch. Đối với những bệnh nhân này, đáp ứng miễn dịch có thể không đạt được như mong muốn.
Khoảng thời gian bảo vệ chưa được xác định chính xác. Hiệu quả bảo vệ duy trì tới 6,4 năm sau liều tiêm chủng đầu tiên đã được đánh giá. Các nghiên cứu dài hạn đang tiếp tục được thực hiện để xác định khoảng thời gian bảo vệ (xem phần Dược lực học).
Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc: Chưa có các nghiên cứu về ảnh hưởng đến khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc.
Quá Liều Hiện chưa có đầy đủ số liệu.
Chống chỉ định Không tiêm Cervarix cho các đối tượng được biết có quá mẫn với bất kỳ thành phần nào trong vắc-xin.
Không được tiêm bắp Cervarix cho những người giảm tiểu cầu hoặc rối loạn đông máu do hiện tượng chảy máu có thể xuất hiện sau khi tiêm bắp ở những đối tượng này.
Lúc có thai và lúc nuôi con bú Khả năng sinh sản
Xem An toàn tiền lâm sàng.
Thai kỳ
Các nghiên cứu đặc hiệu về việc sử dụng vắc-xin trên phụ nữ có thai không được thực hiện. Trong chương trình phát triển thử nghiệm lâm sàng, các trường hợp có thai đã được báo cáo. Các số liệu này chưa đầy đủ để khuyến cáo sử dụng Cervarix trong thai kỳ. Do vậy, nên trì hoãn việc tiêm phòng vắc-xin cho đến khi kết thúc thai kỳ.
Ảnh hưởng của Cervarix đến sự sống và phát triển của phôi thai, trước và sau sinh đã được đánh giá trên chuột nhắt. Những nghiên cứu trên động vật đó không cho thấy ảnh hưởng bất lợi trực tiếp hay gián tiếp đến khả năng sinh sản, thai kỳ, sự phát triển của phôi/bào thai, quá trình sinh đẻ hoặc sự phát triển sau khi sinh.
Cho con bú
Ảnh hưởng đối với trẻ đang bú mẹ khi mẹ tiêm Cervarix chưa được đánh giá trong các nghiên cứu lâm sàng.
Chỉ nên sử dụng Cervarix trong thời gian cho con bú khi xét thấy lợi ích vượt trội so với nguy cơ có thể xảy ra.
Các dữ liệu huyết thanh học cho thấy kháng thể kháng HPV-16 và HPV-18 được truyền qua sữa trong thời kỳ cho con bú ở chuột nhắt. Tuy nhiên, vẫn chưa biết liệu kháng thể tạo thành sau tiêm chủng có được bài tiết qua sữa người hay không.
Tương tác thuốc Sử dụng đồng thời với các vắc-xin khác:
Cervarix có thể tiêm đồng thời với bất kỳ vắc-xin nào dưới đây: vắc-xin kháng nguyên bạch hầu-uốn ván-ho gà vô bào (dTpa), vắc-xin bại liệt bất hoạt (IPV), vắc-xin phối hợp dTpa-IPV, vắc-xin viêm gan A (bất hoạt) (HepA), vắc-xin viêm gan B (rDNA) (HepB) và vắc-xin phối hợp HepA-HepB.
Tiêm Cervarix vào cùng một thời điểm với Twinrix (Vắc-xin phối hợp HepA-HepB) cho thấy không có ảnh hưởng về mặt lâm sàng đối với đáp ứng sinh kháng thể của kháng nguyên HPV và viêm gan A. Hiệu giá kháng thể trung bình nhân của anti-HBs thấp hơn khi chỉ định tiêm đồng thời nhưng ý nghĩa lâm sàng của sự thấp hơn này chưa được quan sát thấy do tỷ suất bảo vệ huyết thanh không bị ảnh hưởng. Tỷ lệ các đối tượng đạt được mức anti-HBs ≥ 10mIU/ml là 98.3% khi tiêm vắc-xin đồng thời và 100% khi dùng Twinrix riêng lẻ.
Nếu tiêm Cervarix cùng lúc với các vắc-xin dạng tiêm khác, nên tiêm vào các vị trí khác nhau.
Sử dụng đồng thời với các biện pháp tránh thai nội tiết tố:
Trong các nghiên cứu về hiệu quả trên lâm sàng, có gần 60% các phụ nữ được tiêm vắc-xin Cervarix đã sử dụng các thuốc tránh thai nội tiết tố. Không có bằng chứng nào cho thấy các thuốc tránh thai nội tiết tố có ảnh hưởng đến hiệu quả của Cervarix.
Sử dụng đồng thời với các thuốc ức chế miễn dịch toàn thân:
Cũng giống với các vắc-xin khác, đáp ứng miễn dịch có thể không đạt được tối ưu ở những bệnh nhân đang sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch.
Tương kỵ Chưa có các nghiên cứu về tính tương kỵ, không trộn lẫn vắc-xin này với các thuốc khác.
Tác dụng ngoại ý Dữ liệu nghiên cứu lâm sàng
Đã có nghiên cứu trên lâm sàng thực hiện trên 12.672 phụ nữ từ 10-25 tuổi. Các đối tượng này đã được theo dõi và đánh giá về tính an toàn sau tiêm vắc-xin.
Tác dụng không mong muốn phổ biến nhất được quan sát thấy sau tiêm chủng là đau tại chỗ tiêm với tỷ lệ là 78% trong tổng số các liều tiêm. Phần lớn các tác dụng không mong muốn xảy ra ở mức độ nhẹ đến trung bình và không kéo dài.
Các tác dụng không mong muốn được cho là có khả năng liên quan đến việc tiêm chủng được liệt kê theo tần suất.
Tần suất được báo cáo như sau:
Rất phổ biến ≥ 1/10
Phổ biến ≥ 1/100 đến < 1/10
Không phổ biến ≥ 1/1000 đến < 1/100
Hiếm ≥ 1/10000 đến < 1/1000
Rất hiếm < 1/10000
Không biết (không thể ước lượng từ các dữ liệu hiện có).
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng:
Không phổ biến: Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên.
Rối loạn máu và hệ bạch huyết:
Không phổ biến: Sưng hạch bạch huyết.
Rối loạn hệ thần kinh:
Rất phổ biến: Đau đầu.
Không phổ biến: Hoa mắt, chóng mặt.
Rối loạn hệ tiêu hóa:
Phổ biến: Rối loạn hệ tiêu hóa bao gồm buồn nôn, nôn, tiêu chảy và đau bụng.
Rối loạn da và mô dưới da:
Phổ biến: Ngứa, phát ban, mày đay.
Rối loạn cơ xương và mô liên kết
Rất phổ biến: Đau cơ.
Phổ biến: Đau khớp.
Rối loạn toàn thân và tại chỗ tiêm:
Rất phổ biến: Phản ứng tại chỗ tiêm bao gồm đau, đỏ, sưng, mệt mỏi.
Phổ biến: Sốt (≥ 38oC).
Không phổ biến: Phản ứng tại chỗ khác bao gồm chai cứng, tê.
Dữ liệu hậu marketing
Rối loạn hệ miễn dịch
Hiếm: Phản ứng dị ứng (bao gồm các phản ứng phản vệ và á phản vệ), phù mạch.
Các rối loạn hệ thần kinh
Hiếm: Ngất xỉu hoặc các cơn cường phế vị sau tiêm, đôi khi đi kèm với các cử động rung giật tăng trương lực.
Bảo quản * Bảo quản trong tủ lạnh (2°C-8°C). Không đông đá. Giữ nguyên trong hộp để tránh ánh sáng.
* Nên dùng Cervarix ngay sau khi lấy ra khỏi tủ lạnh. Tuy nhiên, các dữ liệu nghiên cứu độ ổn định cho thấy Cervarix dạng đóng gói đơn liều vẫn ổn định và có thể dùng được trong trường hợp vắc-xin được bảo quản bên ngoài tủ lạnh tới 3 ngày ở nhiệt độ từ 8oC đến 25oC hoặc tới 1 ngày ở nhiệt độ từ 25oC đến 37oC. Nên sử dụng ngay sau khi mở lọ vắc-xin đa liều. Nếu không sử dụng ngay lập tức thì phải bảo quản vắc-xin trong tủ lạnh (2-8oC). Loại bỏ vắc-xin nếu không sử dụng trong vòng 6 giờ sau khi mở.
Phân loại MIMS Vaccin, kháng huyết thanh & thuốc miễn dịch [Vaccines, Antisera & Immunologicals]
Phân loại ATC J07BM02 - papillomavirus (human types 16, 18) ; Belongs to the class of papillomavirus vaccines.
Trình bày/Đóng gói Huyền dịch tiêm: bơm tiêm đóng sẵn chứa 0.5ml huyền dịch với pít tông có đáy bằng cao su, có hoặc không có kim tiêm.

Nguồn: mims.com